Virus Adeno – Cấu trúc, bệnh lý, chẩn đoán, dịch tễ và phòng bệnh

Virus Adeno – Cấu trúc, bệnh lý, chẩn đoán, dịch tễ và phòng bệnh

Virus Adeno – Cấu trúc, bệnh lý, chẩn đoán, dịch tễ và phòng bệnh

Virus Adeno – Cấu trúc, bệnh lý, chẩn đoán, dịch tễ và phòng bệnh
5 điểm, trong 1 đánh giá

Đại Cương

Virus Adeno là gì? Virus Adeno được Rowe và Huebner phân lập năm 1953 từ mô sùi vòm họng và hạch hạnh nhân ở trẻ em được phẫu thuật cắt bỏ. Sau đó một số virus tương tự đựợc phân lập từ trẻ em khoẻ mạnh, ở bệnh nhân viêm thanh quản cấp, viêm kết mạc, viêm phổi không điển hình, số virus này được đặt tên khác nhau. Đến năm 1956, Enders và Bell đề nghị tên chung cho nhóm virus này là Adenovirus. Các virus Adeno được chia làm sáu nhóm phụ: virus Adeno của người, khỉ, gia súc có sừng, chó, chuột nhắt và virus Adeno của chim. Virus Adeno của người có trên 40 typ và được chia thành sáu nhóm từ A đến F dựa trên sự đồng nhất DNA. Các phần trình bày sau đây chỉ đề cập đến virus Adeno của người.

Cấu trúc, thành phần

Virus adeno

Phân tử Adeno virus

Virus hình trái cầu kích thước 80-1 lOnm (đường kính), chứa ADN đối xứng hình trụ, capsid gồm 252 capsomeres. Virus không có vỏ bọc, thành phần virus gồm 13% ADN và 87% protein. Hạt virus có trọng lượng phân từ 175 X 106. Bộ di truỵền là chuỗi đôi DNA có trọng lượng phân tử 20-30 X 106, gồm 36.000 cặp base. Protein gồm những kháng nguyên quan trọng: (1) hexon, (2) penton và (3) fiber (fiber là những sợi mọc lên từ 12 capsomeres penton, còn lại là 240 capsomeres hexon). Đó là những kháng nguyên chủ yếu để phân loại virus và chẩn đoán bệnh do virus. Dựa vào các đặc điểm về phân tử của DNA, người ta phân chia virus Adeno thành ra 6 nhóm (từ A —» F). Capsomere Hexon và Capsomere penton là thành phần chủ yếu của bề mặt hạt virus.

–     Hexon mang tính kháng nguyên trong tất cả các virus gây bệnh ở người.

–     Penton có mang một hoạt tính giống như độc tố.

–     Fiber có chứa kháng nguyên chuyên biệt týp, rất quan trọng để định týp huyết thanh. Ngoài ra, fiber còn liên quan đến tính chất tụ hồng cầu.

Phân loại

phân loại virus adeno

BẢNG PHÂN LOẠI CỦA VIRUS ADENO NGƯỜI

Virus gồm rất nhiều loại (species), được chia thành hai giống (genera). Virus Aviadeno: Gây bệnh cho chim. Virus Mastadeno: Gây bệnh cho động vật có vú, trong đó có 47 týp huyết thanh đã được phân lập từ người: Virus Adeno người —» chia ra 6 nhóm.

Bệnh do virus Adeno gây ra ở người

Có 4 loại bệnh lí do virus Adeno

 Bệnh đường hô hấp

Có triệu chứng ho, nghẹt mũi, sốt, ớn lạnh nhức đầu và đau nhức cơ. Có 4 hội chứng bệnh ở đường hô hấp:

  • Viêm họng cấp: Thường xảy ra ờ trẻ nhỏ, do virus nhóm Triệu chứng: Ho, sốt, nghẹt mũi, đau họng. Rất khó phân biệt với các bệnh hô hấp khác.
  • Viêm họng, kết mạc: Giống như viêm họng cấp nhưng có kèm thêm viêm kết mạc, thường xảy ra bùng phát ở trẻ, trại hè hay trẻ đi hồ bơi, thường do nhóm B, (nhât là týp 3, 7).
  • Hội chứng hô hấp cấp: Gồm viêm họng, sốt, ho, mệt mồi. Thường xảy ra dịch ở lính tân binh (trại huấn luyện quân sự). Do týp 4, 7.
  • Viêm phổi: Virus Adeno gây ra khoảng 10% các ca viêm phổi trẻ em. Tỷ lệ tử vong 10% ở trẻ nhỏ. Viêm phổi cũng là biến chứng của hội chứng hô hấp cấp ở tân binh.

Viêm nhiễm ở mắt

Bệnh lý ở mắt là một phần của hội chứng hô hấp cấp. Kết mạc bị viêm đỏ tương tự như viêm kết mạc do Chlamydia. Đây là bệnh tự khỏi (self-limited). Có một dạng nặng hơn: viêm kết mạc thành dịch, rất hay lây, kết mạc bị viêm đỏ cấp tính, tế bào quanh mắt bị phù nề, có thể để lại sẹo mờ tròn trong giác mạc tới hai năm sau. Bệnh do týp 8, 19, 37.

Bệnh đường tiêu hóa

Nhiều loại virus Adeno nhân lên trong tế bào đường ruột, và xuất hiện ở phân, nhưng không gây ra bệnh lý ở ruột. Chỉ có hai týp huyết thanh 40 và 41 có thể gây viêm ruột ở trẻ em (5-15% trong tổng số các ca viêm ruột do virus ở trẻ em). Hai týp 40 và 41 có rất nhiều trong phân trẻ em tiêu chảy.

Các bệnh khác

Týp huyết thanh 11 và 21 có thể gây viêm bàng quang xuất huyết cấp ở trẻ em nam, và virus thường thấy trong nước tiểu của bệnh nhân.

Trong các bệnh nhân được ghép tạng, vấn đề thường gặp do nhiễm virus Adeno là viêm phổi nặng và có thể đưa đến tử vong (týp 1 —> 7). Trẻ được ghép gan thường sẽ tiến triển sang viêm gan do virus Adeno (10% các trường hợp), do týp 5 gây ra.

Bệnh nhân của hội chứng AIDS có thể bị nhiễm virus Adeno, týp 35.

Sự nhân lên của virus Adeno (sự sinh sản)

Virus Adeno chỉ nhân lên tốt trong tế bào người hay tế bào có nguồn gốc biểu bì. Chu kỳ nhân lên được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn sớm và giai đoạn muộn. Thời gian cho một chu kỳ nhân lên là 30 giờ. Sức đề kháng: Virus Adeno tương đối bền vững, không cảm thụ với ether, chloroform, virus Adeno có thể sống ở nhiệt độ 36°C trong 14 ngày và 4°C trong 7 ngày

Miễn nhiễm

Ngược lại với những tác nhân gây viêm nhiễm đường hô hấp khác, virus Adeno có thể tạo một sự miễn nhiễm hiệu quả và lâu dài, chống lại sự tái nhiễm. Đó có thể do virus Adeno xâm nhập vào hạch bạch huyết và tế bào lympho trong đường tiêu hóa, tạo ra kháng thể trung hòa chuyên biệt týp lưu thông trong máu, kháng thể này có thể hiện diện suốt đời.

Kháng thể của mẹ có thể bảo vệ trẻ chống lại sự nhiễm virus Adeno nặng ở đường hô hấp. Kháng thể trung hòa chống lại nhiều týp virus Adeno được tìm thấy trong hon 50% các ca ờ các em 6-11 tháng tuổi. Bình thường, một người lớn khỏe mạnh có kháng thể chống lại những týp virus gây bệnh nặng.

Kháng thể chuyên biệt nhóm thì không có tác dụng bảo vệ chống lại sự nhiễm virus.

Chẩn đoán phòng thí nghiệm

Phân lập và định danh virus

Bệnh phẩm

Phải được lấy ở giai đoạn sớm của bệnh. Tùy loại bệnh mà ta lấy bệnh phẩm: phân, nước tiểu, cổ họng, kết mạc mắt. Thời gian xuất hiện virus cũng tùy loại bệnh.

  • Ở cổ họng của người lớn bị cảm cúm: 1-3 ngày.
  • Ở cổ họng, phân, và mắt ở bệnh nhân viêm kết mạc có sốt: 3-5 ngày.
  • Ở mắt: bệnh nhân viêm kết giác mạc: hai tuần.
  • Ở cổ họng và phân trẻ bị viêm nhiễm hô hấp: 3-6 tuần.

Ở nước tiểu, cổ họng và phân của bệnh nhân suy giảm miễn dịch: 2-12 tháng.

Phân lập

Các virus Adeno ở đường ruột có thể xem trực tiếp phân bằng kính hiển vi điện tử. Cấy truyền virus lên tế bào biểu mô người. Tế bào phôi ở thận người là môi trường tốt nhất. Dòng tế bào biểu mô người như HEp-2 và KB rất nhạy cảm nhưng rất khó giữ cho tế bào không bị thoái hóa theo thời gian (28 ngày là thời gian cần để có thể phân lập các chủng mọc chậm). Tổn thương trên tế bào do virus gây ra sẽ được nhận thấy sau hai tuần.

Định danh

Các chủng virus phân lập được, có thể định danh bằng các thử nghiệm: Miễn dịch huỳnh quang (Sử dụng kháng thể Anti hexon), phản ứng ngăn ngưng kết hồng cầu (HI), Thử nghiệm PCR: Bệnh phẩm là mẫu mô hay dịch cơ thể, Thừ nghiệm ELISA và thử nghiệm tụ Latex: Phân lập virus từ phân của bệnh nhân nhiễm virus đường tiêu hóa.

Bời vì virus Adeno có thể tồn tại trong ruột và mô bạch huyết trong một thời gian dài, nên khi phân lập thấy virus Adeno, phải cần thận trong việc định danh và chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh. Virus phân lập từ niêm mạc mắt, phổi, đường sinh dục, và chất tiết cổ họng, là các virus có thể liên hệ đến bệnh lý tương ứng. Virus phân lập từ phân thường ít có ý nghĩa.

Thử nghiệm huyết thanh học

Hiệu giá kháng thể phải tăng lên ít nhất gấp bốn lần.

  • Kháng thể kết hợp bổ thể (CF): Xuất hiện 15 ngày sau khi bắt đầu nhiễm virus của bất kỳ týp nào. Thử nghiệm kết hợp bổ thể rất dễ dàng sử dụng để chẩn đoán bệnh do virúrt Adeno
  • Thử nghiệm ngăn ngưng kết hồng cầu (HI): Có thể định danh virus Adeno thành các nhóm.
  • Phản ứng trung hòa (tìm kháng thể trung hòa) trong nuôi cấy tế bào: Có thể xác định týp của virus Adeno.

Dịch tễ học

Virus Adeno hiện diện khắp mọi nơi trên thế giới và có quanh năm, thường không gây bùng phát bệnh trong cộng đồng. Virus Adeno thường lây bằng đường phân – miệng (fecal-oral), cũng có thể lây bằng những giọt li ti bắn ra từ đường hô hấp. Nhiễm týp 1, 2, 5, 6 thường xảy ra ờ trẻ dưới một tuổi có kèm sốt và viêm cồ-họng.Nhiễm virus Adeno chiếm tỷ lệ 3-5% trong số các bệnh lý nhiễm trùng ở trẻ em. Đối với tất cả bệnh đường hô hấp  cộng đồng nói chung, virus Adeno chỉ chiếm 2-5% trong số tác nhân gây bệnh. Nhưng đối với các lính tân binh, bệnh đường hô hấp chủ yếu do virus Adeno týp 3, 4, 7, 14, 21 gây ra. Nó có thể gây ra bệnh dịch đường hô hấp trong lực lượng quân đội, hậu quả là sẽ ảnh hưởng đến tình trạng động viên. Trong mùa đông, virus Adeno gây ra 72% các ca bệnh đường hô hấp. Sự nhạy cảm đặc biệt của virus Adeno với các lính tân binh mới nhập ngũ là một vấn đề đến nay vẫn chưa giải thích được rõ ràng. Một sự bùng nổ bệnh hô hấp cấp tính xảy ra vào năm 1997, do týp 11 gây ra trong một nhóm thanh niên trẻ, đang sống trong một trung tâm huấn luyện nghề nghiệp. Nhiễm siêu vi ở mắt có thể lây truyền qua nhiều đường, như: tay-mắt (hand to eye) là đường truyền quan trọng nhất.

Trong mùa hè, thường bùng nổ dịch viêm giác mạc trong hồ bơi do týp 3 và 7. Bệnh viêm giác-kết mạc rất hay lây và thường là bệnh nặng, do virus Adeno týp 8 gây ra. Bệnh bùng phát năm 1941 từ úc qua quần đảo Hawai đến bờ biển Thái Bình Dương, nó lây lan rất nhanh theo các tàu biển và đến nước Mỹ. Gần đây có dịch viêm giác-kết mạc do týp 19 và 37. Ở người ghép tủy xương, tỷ lệ nhiễm virus Adeno từ 5-20% (trẻ em là chủ yếu) và do týp 34, 35 gây ra. Virus này còn được phân lập từ bệnh nhân ghép thận, và nước tiểu của bệnh nhân AIDS.

Điều trị và phòng ngừa

  • Dùng vaccin để kiểm soát bệnh nhiễm virus Adeno trong quân đội.
  • Lúc đầu người ta dùng vaccin (đã xử lý bằng formalin) được làm từ tế bào thận khỉ, sau này vaccin được làm bằng virus sống được làm yếu đi, đặt trong một viên nang. Khi uống vào, virus chi được phóng thích ra đường ruột. Vaccin này chống được týp 4 và 7, và được phép sử dụng để chủng ngừa cho quân đội. Ngoài ra, khử clor ở hồ bơi, tiệt trùng kỹ trang thiết bị, dụng cụ khám mắt cùng biện pháp cần thiết.

Điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng và chống bội nhiễm. Đối với viêm kết mạc có thể dùng IUDR có tác dụng ngăn cản sự tổng hợp DNA của virus.

Copy ghi nguồn: https://manhcam.net/

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chát với chúng tôi