Enter your keyword

Chẩn đoán, điều trị, và dự phòng nhiễm 2019 novel coronavirus ở trẻ em

Tóm tắt

Tóm tắt

Từ khi có sự bùng nổ dịch do nhiễm 2019 novel coronavirus (2019-nCoV) tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc; tính đến ngày 30 tháng Một năm 2020, có tổng cộng 9692 ca đã được xác định, 15,238 ca nghi ngờ được báo cáo từ khắp 31 tỉnh và thành phố của Trung Quốc. Trong số những ca đã xác định có 1527 ca bệnh nghiêm trọng, 171 ca đã phục hồi và xuất viện, và 213 ca tử vong. Cũng trong số này, có đến 28 trẻ độ tuổi từ 1 tháng đến 17 tuổi đã được báo cáo tại Trung Quốc. Để chuẩn hoá khâu dự phòng và kiểm soát sự lây nhiễm 2019-nCoV ở trẻ em, chúng tôi đề xuất một Uỷ ban gồm nhiều chuyên gia để đưa ra được một Tuyên bố đồng thuận. Tuyên bố này dựa trên tài liệu của Uỷ ban Y tế Quốc gia về Tiêu chuẩn chẩn đoán và điều trị viêm phổi do nhiễm corona virus chủng mới (phiên bản thứ tư) và các chiến lược chẩn đoán, điều trị được đưa ra trước đó cho nhiễm virus ở trẻ em. Bản tuyên bố đồng thuận này tóm lược các chiến lược hiện tại trong chẩn đoán, điều trị và dự phòng lây nhiễm corona virus ở trẻ em.

Biểu hiện lâm sàng

Dựa trên dữ liệu dịch tễ học hiện tại, thời gian ủ bệnh của nhiễm trùng 2019-nCoV dao động từ 1 đến 14 ngày, chủ yếu là từ 3 đến 7 ngày. Dữ liệu báo cáo hiện tại về các trường hợp nhi khoa cho thấy tuổi khởi phát bệnh dao động từ 1,5 tháng đến 17 tuổi, hầu hết trong số họ có liên hệ chặt chẽ với các trường hợp nhiễm bệnh hoặc là các trường hợp trong cùng gia đình [4]. Trẻ nhiễm bệnh có thể biểu hiện không triệu chứng [5] hoặc có sốt, ho khan và mệt mỏi, một số ít có các triệu chứng hô hấp trên bao gồm nghẹt mũi và chảy mũi nước; một số bệnh nhi có các triệu chứng tiêu hóa bao gồm khó chịu ở bụng, buồn nôn, nôn, đau bụng và tiêu chảy.

Hầu hết trẻ nhiễm bệnh có biểu hiện lâm sàng nhẹ. Các bé không có sốt hay triệu chứng viêm phổi với tiên lượng tốt. Hầu hết trong số này phục hồi trong vòng 1-2 tuần sau khởi phát bệnh. Rất ít bé tiến triển thành nhiễm trùng đường hô hấp dưới. Không có trẻ sơ sinh nào bị lây truyền bởi các bà
mẹ bị nhiễm 2019-nCoV đã được phát hiện dương tính; và chưa có bất kì trường hợp sơ sinh đã được báo cáo. Cần lưu ý rằng các biểu hiện lâm sàng ở bệnh nhi nên được tìm hiểu thêm sau khi thu thập thêm dữ liệu về các ca bệnh nhi. Hơn nữa, số ca nhiễm có bằng chứng sẽ tăng lên sau khi việc phân tích mầm bệnh được sử dụng rộng rãi. Dữ liệu từ người lớn tiết lộ rằng các trường hợp nghiêm trọng thường khởi phát khó thở một tuần sau khi khởi bệnh. Các trường hợp nặng có thể nhanh chóng tiến triển thành hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS), sốc nhiễm trùng, nhiễm toan chuyển hóa kháng trị và rối loạn chức năng đông máu [6, 7]. Mặc dù cho đến nay chưa có báo cáo trường hợp tử  vong nào ở trẻ em, nguy cơ tử vong tiềm tàng cần được nhấn mạnh. Triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhi tương đối nhẹ hơn so với ở người lớn, tuy vậy ARDS và các trường hợp tử vong cũng đã xảy ra ở trẻ nhiễm bệnh trong thời kỳ SARS và MERS [8-11].

Các thăm dò phụ trợ

Các xét nghiệm [3]
1. Trong giai đoạn đầu của bệnh, số lượng bạch cầu bình thường hoặc giảm, với số lượng lympho giảm; men gan, men cơ và nồng độ myohemoglobin tăng ở một vài bệnh nhân.
2. Hầu hết bệnh nhân có tăng mức protein C phản ứng (CRP) và tốc độ lắng máu, trong khi đó mức procalcitonin bình thường.
3. Các trường hợp nghiêm trọng cho thấy mức độ D-dimer cao và số lượng tế bào lympho máu giảm tiến triển.
4. Các mẫu phết họng (nên sử dụng mẫu phết mũi họng), đờm, dịch tiết đường hô hấp dưới, phân và máu, vv đều cho kết quả dương tính với axit nucleic 2019-nCoV.

Hình ảnh ngực

Các trường hợp nghi ngờ hoặc đã được xác định đều nên tiến hành kiểm tra X-quang ngực càng sớm càng tốt. Chụp CT ngực cần thiết trong một số trường hợp. Ở giai đoạn sớm của bệnh, hình ảnh cho thấy nhiều mảng nhỏ và thay đổi mô kẽ, được quan sát rõ ở vùng phổi ngoại vi, nhiều hình ảnh kính mờ hai bên và/hoặc bóng mờ thâm nhiễm. Đông đặc phổi có thể xảy ra ở những ca bệnh nặng. Tràn dịch màng phổi rất hiếm khi xuất hiện.

Chẩn đoán

Những ca nghi ngờ

2019-nCoV nên được nghi ngờ ở những bệnh nhân có một yếu tố tiền sử dịch tễ và hai biểu hiện lâm sàng bất kì nào trong số dưới đây:

Tiền sử dịch tễ

1. Trẻ em có tiền sử đi lại hoặc cư trú tại thành phố Vũ Hán và các khu vực lân cận hoặc các khu vực khác có sự lây truyền cục bộ liên tục trong vòng 14 ngày trước khi phát bệnh;
2. Trẻ em có tiền sử tiếp xúc với bệnh nhân bị sốt hoặc có triệu chứng hô hấp có tiền sử tiếp xúc với bệnh nhân từ thành phố Vũ Hán và các khu vực lân cận, hoặc các khu vực khác có lây truyền cục bộ liên tục trong vòng 14 ngày trước khi khởi phát bệnh;
3. Trẻ em có liên hệ đến cụm dịch hoặc tiếp xúc gần gũi với các trường hợp nhiễm 2019-nCoV;
4. Trẻ sơ sinh được sinh bởi các bà mẹ đã xác định bị nhiễm 2019-nCoV.

Biểu hiện lâm sàng

1. Sốt, mệt mỏi, ho khan; một số bệnh nhi có thể chỉ sốt nhẹ hoặc không sốt;
2. Có triệu chứng trên Xquang/CT ngực (đã đề cập ở trên – xem phần Hình ảnh ngực)
3. Trong giai đoạn sớm của bệnh, số lượng bạch cầu bình thường hoặc giảm, hoặc số lượng tế bào lympho giảm;
4. Không phát hiện được mầm bệnh nào khác có thể giải thích đầy đủ cho các biểu hiện lâm sàng.

Các trường hợp xác định

Là các ca nghi ngờ và thoả mãn một điều kiện bất kì nào dưới đây:

1. Lấy mẫu từ đường hô hấp hoặc mẫu máu xét nghiệm dương tính với axit nucleic 2019-nCoV sử dụng RT-PCR;
2. Giải trình tự gene của mẫu từ đường hô hấp hoặc mẫu máu rất tương đồng với trình tự 2019-nCoV đã biết.

Phân độ lâm sàng

1. Nhiễm trùng không triệu chứng (thầm lặng)

Trẻ em được xét nghiệm dương tính với 2019-nCoV, nhưng không có biểu hiện lâm sàng hoặc hình ảnh ngực bất thường.

2. Nhiễm trùng đường hô hấp trên cấp tính

Trẻ chỉ bị sốt, ho, đau họng, nghẹt mũi, mệt mỏi, đau đầu, đau cơ hoặc khó chịu, v.v., và không có dấu hiệu viêm phổi trên hình ảnh ngực hay sepsis.

3. Viêm phổi nhẹ

Trẻ có hoặc không có sốt, các triệu chứng về hô hấp như ho; và hình ảnh ngực cho thấy viêm phổi, nhưng không đạt tiêu chí của viêm phổi nặng.

4. Viêm phổi nặng

Thoả mãn bất kì tiêu chí nào dưới đây [3, 12-15]:
(1) Tăng tần số hô hấp: ≥ 70 lần/phút (<1 tuổi), ≥ 50 lần/phút (≥1 tuổi) (sau khi loại trừ nguyên nhân do các cơn sốt hoặc do khóc);
(2) Độ bão hòa oxy < 92%;
(3) Hạ oxy máu: thở hỗ trợ (rên rỉ (moans), phập phồng cánh mũi và ba dấu hiệu rút lõm), tím tái, ngưng thở ngắt quãng;
(4) Rối loạn ý thức: ngủ gà, hôn mê hoặc co giật;
(5) Bỏ ăn hoặc ăn uống khó, kèm dấu hiệu mất nước.

5. Các trường hợp nguy kịch

Thoả mãn bất kỳ tiêu chí nào dưới đây và cần phải được chăm sóc ICU:
(1) Suy hô hấp cần thở máy;
(2) Sốc;
(3) Kết hợp với suy (các) cơ quan

Nhận diện sớm các trường hợp nguy cấp

Theo kinh nghiệm chẩn đoán và điều trị viêm phổi cộng đồng ở trẻ em, những trẻ có tiền sử tiếp xúc với các trường hợp nhiễm 2019-nCoV nặng, hoặc có kèm các bệnh nền (như bệnh tim bẩm sinh, thiểu sản phế quản phổi, dị dạng đường hô hấp, với mức độ huyết sắc tố bất thường, suy dinh dưỡng trầm trọng) hoặc có suy giảm hay rối loạn miễn dịch (sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch suốt thời gian dài) và đáp ứng bất kỳ một trong các tiêu chí sau đây có thể tiến triển thành trường hợp nguy cấp:

1. Khó thở: tần số hô hấp> 50 lần/phút(2-12 tháng tuổi); >40 lần/phút (1-5 tuổi); > 30 lần/phút (>5 tuổi) (sau khi loại trừ nguyên nhân do sốt và do khóc);
2. Sốt cao kéo dài trong 3-5 ngày.
3. Đáp ứng tinh thần kém, thờ ơ, rối loạn ý thức và những thay đổi khác của ý thức;
4. Các chỉ số enzyme tăng bất thường, chẳng hạn như men tim, men gan, lactate dehydrogenase;
5. Nhiễm toan chuyển hóa không xác định được nguyên nhân.
6. Hình ảnh ngực cho thấy tình trạng thâm nhiễm cả hai bên hoặc đa thùy, tràn dịch màng phổi hoặc tình trạng bệnh tiến triển rất nhanh trong thời gian rất ngắn.
7. Trẻ nhỏ hơn 3 tháng tuổi;
8. Biến chứng ngoài phổi;
9. Đồng nhiễm với các virus và/hoặc vi khuẩn khác.

Chẩn đoán phân biệt

Cần chẩn đoán phân biệt với virus cúm, virus á cúm, adenovirus, virus hợp bào hô hấp (RSV), rhinovirus, virus metapneumovirus ở người, SARS, corona virus, và các bệnh nhiễm trùng do virus đã biết khác, cũng như viêm phổi do mycoplasma và viêm phổi vi khuẩn. Việc đồng nhiễm 2019-
nCoV với các virus và/hoặc vi khuẩn khác cần được cân nhắc đến khi chẩn đoán.

Điều trị

Điều trị cách ly

1. Dựa trên các điều kiện y tế, bệnh nhân nghi ngờ nên được cách ly trong một phòng đơn hoặc tự cách ly tại nhà theo lời khuyên của bác sĩ.
2. Các trường hợp đã xác định có thể cách ly trong cùng một khu vực.
3. Các trường hợp nghiêm trọng nên được đưa vào ICU càng sớm càng tốt.

Điều trị chung

Các chiến lược điều trị chung bao gồm nghỉ ngơi tại giường và điều trị hỗ trợ; đảm bảo đủ lượng calo và lượng nước uống; duy trì cân bằng điện giải nước và cân bằng nội môi; theo dõi các dấu sinh tồn và độ bão hòa oxy; đảm bảo thông thoáng đường hô hấp và thở oxy khi cần thiết; kiểm tra máu
và nước tiểu hằng ngày, CRP và các chỉ số sinh hóa máu khác bao gồm chức năng gan thận, men tim và chức năng đông máu theo tình trạng bệnh nhi. Phân tích khí máu và thường xuyên kiểm tra lại hình ảnh ngực khi cần thiết.

Điều trị triệu chứng

Những bệnh nhi sốt cao nên được kiểm soát một cách chủ động. Nếu nhiệt độ cơ thể vượt quá 38,5°C với sự khó chịu rõ, cần làm mát cơ thể bằng phương pháp vật lý (tắm nước ấm, sử dụng miếng dán hạ sốt, v.v.) hoặc điều trị bằng thuốc hạ sốt. Các loại thuốc phổ biến bao gồm: ibuprofen đường uống, 5-10 mg/kg mỗi lần; acetaminophen uống, 10-15 mg/kg mỗi lần. Giữ trẻ em yên tĩnh và dùng thuốc an thần ngay lập tức khi xuất hiện co giật hoặc động kinh.

Liệu pháp oxy

Khi có hạ oxy máu, nên điều trị oxy hữu hiệu ngay lập tức bao gồm ống thở mũi và mặt nạ. Điều trị oxy lưu lượng cao qua thở mũi, và thở máy không xâm lấn hoặc xâm lấn nên được thực hiện khi cần thiết.

Điều trị bằng thuốc kháng virus

Interferon ‐ α [3, 16-18]

Interferon-α có thể làm giảm tải lượng virus trong giai đoạn đầu của nhiễm trùng, giúp giảm nhẹ các triệu chứng và rút ngắn quá trình bệnh. Dựa trên các nghiên cứu lâm sàng và kinh nghiệm sử dụng interferon-α trong điều trị viêm phế quản, viêm phổi do virus, nhiễm trùng đường hô hấp trên cấp tính, bệnh tay chân miệng, SARS và các bệnh nhiễm virus khác ở trẻ em, cách sử dụng được khuyến nghị như sau:

1. Thở khí dung interferon-α:

Interferon-α 200.000-400.000 IU/kg hoặc 2-4 μg/kg trong 2 mL nước vô trùng, thở khí dung 2 lần/ngày trong vòng 5-7 ngày;

2. Xịt Interferon-α2b:

Áp dụng cho những người có nguy cơ cao tiếp xúc gần gũi với bệnh nhân nghi ngờ nhiễm 2019-nCoV hoặc những người trong giai đoạn sớm với các triệu chứng đường hô hấp trên. Bệnh nhân nên sử dụng 1-2 nhát cho mỗi bên mũi, 8-10 nhát trên vòm họng, liều interferon-α2b mỗi lần phun/bơm là 8000 IU, mỗi 1-2 giờ một lần, 8-10 nhát/ngày trong 5-7 ngày.

Lopinavir / litonavir [3, 29, 30]

Lopinavir/litonavir đã được thử áp dụng để điều trị bệnh nhân trưởng thành viêm phổi do 2019-nCoV, nhưng hiệu quả và độ an toàn của nó vẫn được xác định.

Các thuốc kháng virus khác

Kháng sinh [3, 12]

Tránh sử dụng kháng sinh không hợp lý, đặc biệt là kết hợp với kháng sinh phổ rộng. Đặc biệt chú ý đến những thay đổi tình trạng bệnh ở trẻ em bị đồng nhiễm với vi khuẩn hoặc nấm; tích cực thu thập các mẫu để phân tích mầm bệnh và sử dụng kháng sinh hoặc thuốc chống nấm kịp thời hoặc hợp lý.

Arbidol [31] , oseltamivir [32] và các loại thuốc chống cúm khác

Arbidol đã được sử dụng cho người trưởng thành nhiễm 2019-nCoV; tuy nhiên, hiệu quả và độ an toàn của nó vẫn chưa rõ ràng. Oseltamivir và các thuốc kháng virus cúm khác có thể được dùng cho những bệnh nhân bị nhiễm virus cúm khác.

Các loại thuốc khác [3, 12]

Glucocorticoids

Việc sử dụng glucocorticoids nên dựa trên mức độ nghiêm trọng của đáp ứng viêm toàn thân (SIR), mức độ khó thở, có hoặc không có ARDS và tình trạng tiến triển của hình ảnh ngực. Glucocorticoids có thể được sử dụng trong một thời gian ngắn (3-5 ngày). Liều khuyến cáo của methylprednisolone không vượt quá 1-2mg/kg/ngày.

Immunoglobulin

Immunoglobulin có thể được dùng trong các trường hợp nghiêm trọng khi có chỉ định, nhưng hiệu quả của nó cần được đánh giá thêm.

Điều trị các ca bệnh nặng và nguy kịch [3, 12]

Trên cơ sở điều trị triệu chứng, nên chủ động phòng ngừa và điều trị các biến chứng, các bệnh nền, nhiễm trùng thứ phát và cung cấp hỗ trợ chức năng cơ quan theo đúng chỉ định.

Hỗ trợ hô hấp

Trẻ em đã qua thở máy không xâm lấn trong 2 giờ mà không cải thiện tình trạng, hoặc không thể thực hiện thông khí không xâm lấn, kèm theo tăng tiết khí quản, ho dữ dội hoặc mất ổn định huyết động, cần được thở máy xâm lấn ngay lập tức. Thông khí cơ học xâm lấn nên áp dụng chiến lược thông khí bảo vệ phổi ở thể tích khí lưu thông thấp để giảm tổn thương phổi do máy thở. Nếu cần thiết, có thể áp dụng thông khí tư thế nằm sấp, huy động phổi hoặc oxy hoá qua màng ngoài cơ thể (ECMO).

Hỗ trợ tuần hoàn

Trên cơ sở hồi sức đảm bảo đủ dịch, cải thiện vi tuần hoàn, sử dụng thuốc vận mạch và theo dõi huyết động nếu cần thiết.

Đông Y

Bệnh này thuộc nhóm bệnh dịch của Đông Y và là hậu quả của việc nhiễm mầm bệnh dịch. Các khu vực khác nhau có thể tham khảo các lựa chọn sau đây để điều trị biện chứng theo các điều kiện bệnh nhân, các đặc điểm khí hậu địa phương và đặc điểm thể chất của trẻ em.

Điều trị theo từng giai đoạn lâm sàng

1. Thể nhiễm trùng không triệu chứng

(1) Phương pháp trị liệu: tăng cường thể trạng và loại bỏ tác nhân gây bệnh (phù chính khu tà);
(2) Khuyến cáo dùng thuốc và kê đơn: bài thuốc “Ngọc bình phong tán” gia giảm kết hợp với bài thuốc “Bất hoán kim chính khí tán”, thành phần gồm 9-12g chích Hoàng kỳ (Prepared Astragalus), 6-9 g sao bạch truật (Roasted Rhizoma Atractylodis Macrocephalae), 3-9g Hậu phác (Oficianal Magnolia Bark), 6-9g Thương truật (Atractylodes lancea), 6-9g Trần bì (Pericarpium citri reticulatae), 3-6g, Khương bán hạ (Ginger processed pinellia),6-9g Hoắc hương  (Agastache rugosus), 6-9g Phục linh (Poria cocos), 3-6g chích Cam thảo (Prepared Liquorice Root).

2. Thể hàn thấp bế phế

(1) Biểu hiện lâm sàng: sợ lạnh, sốt hoặc không sốt, ho khan, đau họng, nghẹt mũi, mệt mỏi, buồn nôn và nôn, phân lỏng, chất lưỡi nhạt, hoặc đỏ rêu lưỡi trắng nhầy, mạch phù hoãn;
(2) Phương pháp trị liệu: tuyên phế, tán tà, giải độc và hoá thấp;
(3) Thuốc và kê đơn: Thanh khí thang gia giảm, thành phần gồm 6-9g Thương truật, 3-9g Hậu phác, 6-9g Trần bì, 6-12g, Hoắc hương, 3-9 g Bán hạ, 3-9g Hạnh nhân, 9-15 Tô diệp, 6-9g Cát cánh, 6-9 g Quán chúng, 6-9 g Phục linh, 3-6 g Sinh khương và 3-6 g Cam thảo.

3. Nhiệt độc trở phế

(1) Biểu hiện lâm sàng: sốt kéo dài hoặc ớn lạnh và sốt hồi quy; ho có đờm ít hoặc đờm vàng; thở nhanh; chướng bụng, táo bón. chất lưỡi có màu đỏ, rêu lưỡi có màu vàng nhầy, hoặc vàng khô. Mạch hoạt sác;
(2) Phương pháp trị liệu: giải độc, công hạ, tuyên thông phế khí, nhuận phế hoá đàm;
(3) Thuốc và kê đơn: Tuyên bạch thừa khí thang gia giảm, thành phần bao gồm: 3-6g Hoắc hương, 10g Thương truật, 3-6 g chích Ma hoàng, 3-9 g sao Hạnh nhân, 15-30g sinh Thạch cao, 10g Qua lâu, 3-6 g Tửu quân (Thục đại hoàng-bỏ vào sau), 6-9 g Hoàng cầm, 6-9 g Phục linh, 6-9 g Đan bì, 6-9 g Thạch xương bồ, 3-6 g Xuyên bối.

4. Nội bế tâm thần

(1) Biểu hiện lâm sàng: khó thở, thờ ơ, kích thích, lạnh ẩm vùng chi, lưỡi tím, rêu lưỡi dày nhầy hoặc khô, mạch phù đại (không ổn định). Xem chỉ văn (distal phalanx), thấy chỉ văn nổi rõ đến mệnh quan;
(2) Phương pháp trị liệu: Khai bế, tỉnh thần, cố thoát (solidifcation dysfunction), giải độc; (3) Thuốc và kê đơn: Sâm phụ thang gia giảm hợp với sinh
mạch thang, thành phần bao gồm: 3-6 g Nhân sâm, 6-12 g Phụ tử (phải sắc trước một giờ), 6-12g Sơn thù nhục (Fructus Corni), 10 g Mạch môn đông (Radix ophiopogonis), và 3-6g Nhục quế (Cinnamomum cassia), dùng kèm với An cung ngưu hoàng hoàn.

5. Tỳ phế khí hư

(1) Biểu hiện lâm sàng: Tiếng ho yếu, mệt mỏi và suy nhược, tự hãn, chán ăn, đại tiện phân lỏng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng ướt, mạch tế nhược;
(2) Phương pháp trị liệu: Dưỡng phế, kiện tỳ, ích khí, trừ thấp;
(3) Thuốc và kê đơn: Lục quân tử thang gia giảm thành phần bao gồm: 15 g chích Hoàng kỳ (prepared Astragalus), 10 g Tây dương sâm (American Ginseng), 10 g sao Bạch truật (Roasted Rhizoma Atractylodis Macrocephalae), 6 g pháp Bán hạ (Rhizoma Pinelliae preparatum), 6 g Trần bì (Pericarpium citri reticulatae), 3 g Xuyên bối (Tendril-leaved fritillary bulb), 15 g Phục linh (Poria cocos), 6 g Hoắc hương (Agastache rugosus), và 3g Sa nhân (Fructus amomi) (thêm vào sau).

Tâm lý trị liệu

Tư vấn tâm lý đóng một vai trò quan trọng trong việc phục hồi bệnh. Nếu bệnh nhân (đặc biệt là trẻ lớn) biểu hiện tâm trạng thất thường, sợ hãi hoặc rối loạn tâm lý, cần phải can thiệp và điều trị tâm lý tích cực.

Tiêu chuẩn ngừng cách ly và xuất viện

Những bệnh nhân đã xác nhận nhiễm nCoV có thể được ngừng cách ly hoặc chuyển đến các khoa tương ứng để điều trị các bệnh khác nếu đáp ứng tất cả các tiêu chí sau:
1. Nhiệt độ cơ thể trở lại bình thường trong hơn 3 ngày;
2. Các triệu chứng hô hấp cải thiện rõ ràng;
3. Kết quả kiểm tra axit nucleic gây bệnh đường hô hấp âm tính trong hai lần liên tiếp (khoảng cách giữa 2 lần lấy mẫu ít nhất là 1 ngày).
Những bệnh nhân nghi ngờ nhiễm (chưa được xác nhận) có thể được ngừng cách ly khi kết quả kiểm tra axit nucleic gây bệnh đường hô hấp âm tính hai lần liên tiếp (khoảng cách giữa 2 lần lấy mẫu ít nhất là 1 ngày).

Dự phòng

Nhiễm trùng nCoV là một bệnh truyền nhiễm mới với một ổ dịch mới nổi và ảnh hưởng đến tất cả các quần thể. Nhiễm trùng 2019-nCoV đã được phân loại là bệnh truyền nhiễm loại B theo lý thuyết, nhưng được quản lý như một bệnh truyền nhiễm loại A. Điều tối quan trọng là phải thực hiện các
biện pháp kiểm soát nhiễm trùng bằng cách kiểm soát nguồn lây nhiễm, chặn đường lây truyền và bảo vệ quần thể mẫn cảm.

Kiểm soát nguồn lây nhiễm

Bệnh nhân bị nhiễm 2019-nCoV là nguồn lây nhiễm chính. Trẻ em bị nhiễm nCoV nên được cách ly tại nhà hoặc vào bệnh viện được chỉ định theo hướng dẫn của nhân viên y tế tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tình trạng y tế. Cần cố gắng cung cấp phòng đơn cho trẻ em bị cách ly, và giảm cơ hội tiếp xúc giữa các trẻ đồng nhiễm. Cần nhu cầu rất lớn về thông khí phòng, vệ sinh thiết yếu và công việc khử trùng cho các vật phẩm được sử dụng bởi trẻ. Điều quan trọng không kém là nhu cầu thiết bị, với mặt nạ dùng một lần và thải bỏ đúng cách sau khi chăm sóc người bệnh.

Chặn đường truyền

1. Ngăn ngừa lây truyền qua các giọt bắn hô hấp (droplets) và tiếp xúc: Che miệng và mũi bằng khăn ăn hoặc khăn vải khi ho hoặc hắt hơi. Rửa tay cho trẻ thường xuyên, hoặc dạy trẻ kỹ thuật rửa tay bảy bước. Cố gắng không chạm vào miệng, mũi hoặc mắt trước khi đã rửa tay kỹ sau khi trở về
từ nơi công cộng, sau khi che miệng khi ho, trước khi ăn hoặc sau khi đi vệ sinh; thường xuyên khử trùng đồ chơi bằng cách làm nóng ở 56°C trong 30 phút, cồn 75% hoặc chất khử trùng có chứa clo và tia cực tím.

2. Giảm tiếp xúc với tác nhân lây nhiễm: Tránh giao thông công cộng tại các vùng dịch tễ, và đeo khẩu trang khi đến những nơi đông người hoặc thông gió kém; tránh chạm vào hoặc ăn thịt động vật hoang dã và đi chợ bán động vật sống.

3. Theo dõi sức khỏe trẻ em: Trẻ em có tiền sử tiếp xúc gần gũi với bệnh nhân nhiễm trùng cần được theo dõi nhiệt độ cơ thể và các biểu hiện lâm sàng thường xuyên. Khi xuất hiện các triệu chứng nghi ngờ ngờ, nên đưa trẻ đến một bệnh viện đã được chỉ định để sàng lọc. Trẻ sơ sinh được sinh ra bởi các bà mẹ bị nhiễm bệnh phải được xét nghiệm mầm bệnh và cách ly trong một phòng bệnh hoặc tại nhà tuỳ theo điều kiện y tế.

Tăng cường miễn dịch

Ăn uống điều độ, giữ sức khỏe răng miệng, tập thể dục đầy đủ, nghỉ ngơi thường xuyên, tránh mệt mỏi quá mức và tăng cường miễn dịch là những biện pháp mạnh mẽ để ngăn ngừa nhiễm trùng, cũng như duy trì sự ổn định về cảm xúc và sức khỏe tinh thần. Tiêm vaccine là một cách hiệu quả để ngăn ngừa nhiễm virus. Việc nghiên cứu và phát triển vắc-xin chống vi-rút hiện đã được thực hiện ở Trung Quốc.

danh bạ thuốc